NGÂN NHĨ ( NẤM TUYẾT ): LÀ LOẠI THỰC PHẨM BỒI BỔ CƠ THỂ HÀNG ĐẦU, TƯ ÂM SINH TÂN, BỔ TỲ AN THẦN.

NGÂN NHĨ TƯƠI

 

  • Tính vị:

Ngân nhĩ: vị ngọt, tính bình.

Phần để ăn: ngân nhĩ khô.

Phần dùng làm thuốc: toàn bộ ngân nhĩ.

  • Công dụng:

Ngân nhĩ: nhuận phế hóa đờm, ích vị sinh tân, bồi bổ cơ thể, cầm máu, cầm ho. Ngân nhĩ chứa loại đường có tác dụng tăng cường chức năng thực bào của đại thực bào, bảo vệ cơ thể khỏi tác hại của phóng xạ.

  • Tác dụng trị bệnh:

Ngân nhĩ: trị ho do phế nhiệt, ho do phổi khô, cổ họng khô miệng khát, sốt nhẹ ra mồ hôi, táo bón, vị âm hư suy, người yếu sau khi bệnh, trong đờm lẫn máu, cao huyết áp, xơ cứng mạch máu, ho lao, ho ra máu, chảy máu cam, thủy thũng, ho có đờm.

Cách dùng: 5 – 15g ngân nhĩ, sắc nước uống hoặc chưng đường phèn, nấu với các loại thịt ăn.

  • Lưu ý khi dùng:

  1. Ngân nhĩ không nên dùng riêng.
  2. Người bị tiêu chảy, đờm thấp, bị ho phong hàn không nên dùng.
NGÂN NHĨ KHÔ
  • Thành phần dinh dưỡng:

  • Vitamin: A, B1, B2, B3, B5, B6, B9, B12, C, D, Carotene.
  • Chất dinh dưỡng: protein, chất béo, cacbohydrate.
  • Khoáng chất: Canxi, Photpho, Kẽm, Đồng,Kali, Natri, Selen, Magne.
  • Năng lượng: 200 kcal.
  • Chất xơ: 33,7g.
  • Thông tin bổ sung:

  1. Ngân nhĩ thích hợp cho người bệnh cao huyết áp, xơ cứng mạch máu.
  2. Ngân nhĩ còn có tác dụng sinh huyết, bảo vệ tế bào gan, chống đông máu, ức chế bệnh huyết khối, giảm mỡ máu, hạ đường huyết, chống lão hóa, kháng ung thư.
  3. Ngân nhĩ giúp tư âm sinh tân, ích khí dưỡng huyết, bổ thận kiện não, tư âm nhuận phế, bổ tỳ an thần, hòa vị, kích thích ăn uống. Có hiệu quả cao trong việc điều trị các bệnh như cao huyết áp, mỡ máu cao, xơ cứng động mạch, chứng suy giảm bạch cầu, thần kinh suy nhược, viêm dạ dày.
NGÂN NHĨ NINH TRỨNG- MÓN ĂN TRỊ TÀN NHANG
  • Các bài thuốc chữa bệnh từ ngân nhĩ:

  • Cao huyết áp, xơ cứng động mạch: 25g ngân nhĩ, 25g hà thủ ô sống, 40g mè đen. Ngân nhĩ và hà thủ ô sắc nước, lọc bỏ bã sau đó cho thêm mè đen đã được rang và tán bột vào dùng.
  • Ung thư dạ dày, giúp nhuận phế:

+ Cách 1: 15g ngân nhĩ, 40g đường phèn ( hoặc cho thêm 15g mộc nhĩ). Sắc nước uống, mỗi ngày 1 lần, dùng thường xuyên.

+ Cách 2: 25g ngân nhĩ, 15g tổ yến, đường phèn đủ dùng. Ngâm ngân nhĩ, tổ yến cho nở to, cho đường phèn vào chưng hoặc hầm cách thủy ăn.

  • Xuất huyết đáy mắt: 25g ngân nhĩ, 25g mộc nhĩ, đường phèn đủ dùng ( hoặc chỉ dùng ngân nhĩ và mộc nhĩ ). Ngân nhĩ và mộc nhĩ dùng nước rửa sạch ngâm 1 đêm, rửa sạch cho vào nồi chưng 1 tiếng đồng hồ, cho thêm đường phèn. Ăn trước khi đi ngủ.
  • Ho khan không đờm: 40g ngân nhĩ, 40g rễ cỏ tranh,20g als sơn trà Nhật Bản ( còn gọi là tỳ bà ), 50g đường trắng ( hoặc mật ong ). Lá sơn trà bỏ lông, sắc cùng với ngân nhĩ và rễ cỏ tranh, lọc bỏ bã rồi thêm đường ( hoặc mật ong ) uống, sáng, tối mỗi buổi 1 lần.
  • Âm hư phế khô, trong đờm có máu: 40g ngân nhĩ, 40g bách hợp,25g sa sâm, 15g mạch đông. Sắc nước uống, mỗi ngày 2 lần.
  • Khô họng, khản tiếng, ho khan: Ngân nhĩ lượng vừa đủ dùng, 1 quả trứng vịt vỏ xanh ( cho lòng đỏ đậm màu ). Nấu canh ăn.
  • Vị âm hư suy, khô họng khát nước, ho do phế nhiệt, táo bón: 40g ngân nhĩ, 50g đường phèn ( có thể thêm 20g hạt đông quỳ ). Hầm nhừ, sáng, tối mỗi buổ 1 lần.
  • Đục thủy tinh thể: 40g ngân nhĩ, 75g lá cải thảo, 4g lá trà ( hoặc thêm 15g câu kỷ ). Sắc nước uống, mỗi ngày 2 lần.
  • Ho do âm hư, đau đầu, hoa mắt, béo phì: 100g ngân nhĩ, 100g mộc nhĩ, 100g hoa cúc tươi, 10g hành, 5g gừng, 10g rượu, 2,5g muối ăn, 2,5g bột ngọt, 30g dầu thực vật. Ngân nhĩ, mộc nhĩ ngâm cho nở hết, cắt thành miếng, rửa sạch; hoa cúc rửa sạc, để ráo, hành thái đoạn. Dùng lửa lớn làm nóng chảo, cho dầu thicwj vật vào đun nóng khoảng 6 phần thì cho gừng, hành phi thơm; sau đó cho mộc ngĩ, ngân nhĩ, rượu, muối ăn, bột ngọt vào xào chín. Sau cùng cho hoa cúc vào là được.
  • Ung thư phổi, ho khan, ho ra máu: 15g ngân nhĩ, 50g đường phèn( hoặc thêm 25g củ sen ). Ngâm ngân nhĩ trong nước ấm khoảng 1 tiếng, nấu sền sệt, cho đường phèn vào dùng.
  • Chứng ra nhiều mồ hôi: 375g ngân nhĩ, 50g đường phèn ( cũng có thể thêm 25g long nhãn, 6 quả táo). Nấu lên ăn.
  • Xuất huyết tử cung: 20g ngân nhĩ, 20g hắc mộc nhĩ, 20g sơn trà, đường đủ dùng. Ngâm ngân nhĩ và hắc mộc nhĩ 1 tiếng, rửa sạch, nấu chung với sơn trà, cho đường vào ăn.
  • Chứng giảm bạch cầu sau hóa trị ung thư: 15g ngân nhĩ, 35g đảng sâm, 35g hoàng kỳ, 50g giảo cổ lam, 35g ý nhĩ, 35g gạo. Cho 4 vị thuốc đầu tiên vào sắc, sau đó lọc bỏ bã rồi cho ý nhĩ, gạo vào nấu cháo. Mỗi ngày ăn 1 lần.
  • Bệnh tê liệt ở người già ( triệu chứng: cơ thể gầy gò, miệng khô, khát nước, sốt nhẹ): 25g ngân nhĩ, 50g hạt sen, một ít đường trắng. Nấu nhừ ngân nhĩ và hạt sen, sau đó cho thêm đường trắng, ăn lúc bụng đói.
  • Âm hư hỏa vượng, tâm phiền, mồ hôi trộm, tim đập nhanh, mất ngủ: 25g ngân nhĩ, 15 quả táo, đường trắng đủ dùng. Sắc nước uống, dùng liên tục 10 – 15 ngày.
  • Ho do phế nhiệt, ho khan: 40g ngân nhĩ, 50g bách hợp tươi, 50g đường phèn ( hoặc mật ong ). Bách hợp ngâm 5 tiếng, rửa sạch, cho thêm ngân nhĩ, đường trắng vào hầm ăn, dùng liên tục 5 ngày. Người ho ra máu hay chảy máu cam đều có thể dùng.

 

 

Published by

Lương y Duy

Phòng khám TÂM Y ĐƯỜNG

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s