GỪNG – Kích Thích Vị Giác , Tăng Cường Tuần Hoàn Máu.

gừng

*Tính vị:

Gừng tươi : vị cay, tính ôn.

Nước cốt gừng tươi : vị cay, tính hơi ôn.

Vỏ gừng tươi : tính hơi ôn.

Gừng nước đen: vị đắng, cay, chát, tính ôn.

Lá gừng: vị cay, tính ôn.

Phần để ăn: củ

Phần dùng làm thuốc: củ, nước cốt gừng tươi, vỏ, lá, gừng nướng đen.

*Công dụng:

Gừng tươi : khai vị, giúp ra mồ hôi, tán hàn, giải ho, giải độc.

Nước cốt gừng tươi: chữa phong thấp, trị nôn mửa.

Gừng  nướng đen : ôn kinh cầm máu, ôn tỳ trừ tả.

*Tác dụng trị bệnh:

Gừng tươi: trị cảm phong hàn, ho do hư hàn, đau dạ dày, ho đờm trắng, tiêu chảy, nôn mửa.

Cách dùng: 5-15g ( 2-4 lát ), sắc nước uống hoặc giã lấy nước uống.

Dùng ngoài da: giã nát đắp, lấy nước bôi hoặc sao nóng đắp.

Lá gừng: trị đau bụng bị thương phần cứng và phần mềm, ứ huyết.

Cách dùng: tán bột, mỗi lần dùng lấy 2g, hoặc giã đắp.

Gừng nướng đen: trị nôn ra máu do hư hàn, tiểu ra máu, băng lậu, tiêu chảy do âm hư.

Cách dùng: 5- 10g, sắc nước uống.

Dùng ngoài da: tán bột đắp.

Vỏ gừng tươi: trị phù thủng, trị bệnh da nhiễm nấm

Cách 1: 5-15g, sắc nước uống hoặc xát ngoài da đối với vùng bị nhiễm nấm.

Cách 2: uống 3 – 10 giọt nước gừng tươi.

           *Lưu ý cách dùng:

1/ Người bị bệnh trĩ , huyết áp cao không được ăn; người ho do phế nhiệt, nôn mửa do vị nhiệt kiên dùng.

2/ Gừng ăn sống dùng để thoát mồ hôi, ăn chín giúp ôn trung.

3/ Người âm hư nội nhietj kỵ dùng.

           *Thành phần dinh dưỡng:

-Vintamin A, B1, B2, B3, B5, B6, B9, C, Carotene.

-Chất dinh dưỡng:  protein, chất béo, cacbohydrate

-Khoáng chất: canxi, kali, kẽm, đồng, sắt, natri, selen, photpho, magne.

-Năng lượng: 66 kcal.

-Chất xơ: 22g.

gà kho gừng
GÀ KHO GỪNG – MÓN NGON MỌI NHÀ

*Thông tin bổ sung:

1. Chất gingeron trong gừng có tác dụng kích thích niêm mạc ruột, làm tăng sự thèm ăn, tăng cường tiêu hóa.

2. Tinh dầu, chất gingeron, axit amino trong gừng có thể kích thích vị giác, làm hưng phấn trung khu hô hấp và tim, làm tăng huyết áp, thoát mồ hôi và trị ho.

3. Gừng tươi có thể tăng cường tuần hoàn máu, kích thích tiết dịch vị, thúc đẩy tiêu hóa, người bị cảm phong hàn có thể dùng 15g gừng tươi, đường đỏ và đường phèn mỗi thứ 75g, sắc nước uống cho ra mồ hôi.

4. Gừng – thịt thỏ kỵ nhau:

Tính cất 2 loại này khác nhau, hàn nhiệt ăn chung, dễ dẫn đến tiêu chảy.

5. Gừng – thịt bò bổ trợ nhau:

Thịt bò bổ dương ấm bụng, rất hợp với gừng tươi khu hàn bảo noãn, có thể trị đau bụng do hàn..

*Cách làm gừng ngâm:

-Nguyên liệu: 5kg gừng tươi, 500g muối, 100g hành, 50g bột ngọt, có thể them rượu nếu thich ( loại có nồng độ nhẹ khoảng 500ml ).

-Thực hiện: Gừng tươi gọt vỏ, rửa sạch, để ráo nước, thái lát, sau đó xắt sợi, hành dùng dao đập nát. Chuẩn bị nước sôi để nguội vừa dùng. Bỏ gừng, hành, muối vào hũ rồi cho nước và rượu vào, ngâm 1 ngày là ăn được. Khi ăn có thể cho chút bột ngọt, đường, dầu mè.

*Các bài thuốc chữa bệnh từ gừng:

–       Bệnh tim phổi : 15g gừng tươ, 50g diếp cá, 40g rau mùi. Cho tất cả nguyên liệu vào sắc nước uống sang, tối mỗi buổi 1 lần.

–       Tiêu chảy: 15g gừng khô, 50g vỏ cây hương xuân ( tông dù ), 10g cam thảo. tán bột các nguyên liệu,mỗi lần uống lấy 3g, dùng 3 lần mỗi ngày.

–       Đau lưng mãn tính: 15g gừng tươi, 150g lá hương xuân. Cho nguyên liệu vào giã nát, đắp lên lưng.

–       Nấc cụt: 50g gừng tươi, mật ong đủ dùng. Gừng tươi giã lấy nước bỏ bã, cho them mật ong, pha với nước nóng uống, mỗi ngày 2-3 lần.

–       Ho đờm nhiều: 10g gừng tươi, 10g lá tía tô, 10g vỏ quýt, đường đỏ đủ dùng. Cho nguyên liệu vào sắc nước , khi uống cho thêm đường đỏ; sáng, tối mỗi buổi 1 lần.

–       Viêm khí quản mãn tính: 5 – 8 lát gừng tươi, 350g củ cải, 50g đường đỏ. Cho tất cả nguyên liệu vào sâc nước uống.

–       Hen suyễn: 

+ Cách 1: 20g gừng tươi, 1 quả trứng gà. Gừng sống thái nhuyễn, trộn đều với trứng gà, xào chin ăn.

+ Cách 2: 50g gừng tươi, 7,5g mật ong. Gừng tươi giã nát lấy nước, trộn thêm mật ong, chia làm 3 lần uống. nên dùng nước nóng pha uống.

–       Nôn mửa do lạnh dạ dày: 20g gừng tươi, 125g quýt (cả vỏ). sắc nước, uống trước khi ăn (nên dùng khi còn ấm), uống liên tục 5 – 7 ngày; sáng, tối mỗi buổi 1 lần.

–       Ho gió: 25g gừng tươi, 50g táo tàu, 50g đường đỏ. Cho gừng và táo tàu vào nồi, đổ 3 chén nước vào sắc, sau đó thêm đường đỏ, uống khi nước ấm. cấm kỵ dùng quạt khi đang ra mồ hôi, để mồ hôi tự khô.

–       Viêm khớp dạng phong thấp: 5g gừng khô, 25g vỏ mướp khía, 50g ý dĩ. Cho tất cả nguyên liệu vào sắc nước uống; sáng, tối mỗi buổi 1 lần.

–       Dễ sẩy thai: 25g vỏ gừng, 10 quả táo, 50g vỏ bí đỏ (càng già càng tốt), 50g đường đỏ. Cho tất cả nguyên liệu vào sắc nước uống; sáng, tối mỗi buổi 1 lần.

–       Đau lưng do thận hư: 9g gừng tươi, 10g đõ trọng, 1 cái thận heo. Thận heo rửa sạch, thái lát hoặc xắt miếng, sau đó thêm đỗ trọng và gừng, đỏ nước vào hầm nhừ, chia ra nhiều lần ăn.

–       Bệnh chảy nước miếng ở trẻ em: 5g gừng tươi, 10g cam thảo. cho 2 nguyên liệu vào nồi, đổ 1 chén nước vào nồi, nấu còn 8 phần, cho trẻ uống thành nhiều lần, mỗi lần 1 ít.

–       Đau bụng: gừng tươi vừa đủ. Gừng đem giã nát, bôi lên rốn sẽ nhanh chóng hết đau.

–       Chứng lột da tay: 50g gừng tươi, 800ml rượu gạo. Gừng tươi tháu lát, ngâm rượu khoảng 24 tiếng, sau đó có thể lấy chà lên chổ bị tróc da, mỗi ngày 2 lần.

–        Cháo gừng nấu với tiêu hạt- món ngon trị bệnh (có công dụng ôn trung chỉ tả, thích hợp cho người bị đường ruột và da dày) : 100g gạo, 10g tiêu hạt, 2 lát gừng tươi, muối đủ dùng. Gạo đem vo nấu với 800ml nước, sau đó thêm hạt tiêu và gừng vào, nêm muối vào ăn, chia ra ăn 2 lần.

 

 

 

MƯỚP – THANH NHIỆT GIẢI ĐỘC, TĂNG LƯU THÔNG MÁU.

 

mướp
MƯỚP – TĂNG LƯU THÔNG MÁU

 

*Tính vị:

Mướp: vị ngọt, tính mát.

Hạt: vị đắng, tính hàn.

Xơ: vị ngọt, tính mát.

Lá: vị đắng, tính hơi hàn.

Hoa: vị ngọt, hơi đắng, tính hàn.

Vỏ: vị ngọt, tính mát.

Rễ: vị ngọt, hơi đắng, tính hàn.

Đài: vị đắng, tính hơi hàn.

Phần để ăn: thịt quả.

Phần dùng làm thuốc: xơ, lá, dây rễ, vỏ, đài, hoa và hạt.

*Công dụng:

Quả: thanh nhiệt giải độc, làm mát và lưu thông máu, giải đờm.

Dây: giúp lưu thông máu, bổ gân cốt, trị ho, giải đờm.

Xơ: thông kinh mạch, giải nhiệt, trị sưng phù,lợi tiểu.

Đế: thanh nhiệt giải độc, trị ho, giải đờm.

Lá: thanh nhiệt giải độc, trị ho, trị trúng nắng, tiêu đờm

Vỏ: thanh nhiệt giải độc.

Rễ:giúp máu lưu thông, bổ gân cốt, thanh nhiệt giải độc.

Hoa: thanh nhiệt giải độc, tiêu đờm trị ho.

Hạt: thanh nhiệt, lợi thủy, dễ tiêu tiểu, giải độc.

*Tác dụng trị bệnh:

Quả mướp: thanh nhiệt giải khát, trị bệnh đậu mùa, ho nhiều đờm, đau sưng họng, trúng gió lâu ngày, bệnh trĩ ra máu, tiêu tiểu ra máu, tắc sữa, giúp sáng mắt, trih huyết trắng, bị mủ độc, tay chân tê cứng, bị phù, sưng độc.

Cách dùng: 15 – 25 mướp khía khô, cũng có thể dùng 5 – 15g mướp khía tươi, nấu chin hoặc nướng thành than rồi nghiền thành bột, mỗi lần dùng 5 – 7,5g.

Dùng ngoài da: giã nát ép lấy nước hoặc nghiền thành bột bôi.

Xơ mướp: trị đau thắt ngực, tê nóng, co thắt kinh mạch, tắc sữa; phổi nóng gây ho, sưng; bụng nhiều nước, đau tê, viêm da, đau trúng gió, các bệnh về khớp, đau nhức do té, đi tiểu khó.

Cách dùng: 10 – 25g sắc nước dùng hoặc nướng cháy rồi nghiền thành bột, mỗi lần dùng 2g.

Dùng ngoài da: sao rồi nghiền thành bột đắp.

Lá mướp: trị tê liệt, sưng, bị ghẻ lở, khô miệng do nóng, ho gà kèm theo triệu chứng viêm da, mụn nước trên da, đau sưng họng, nôn ra máu, chảy máu cam, giúp cầm máu, trị bỏng do lửa, vết thương do rắn cắn.

Cách dùng: 10 – 25g sắc nước uống, hoặc 20 – 75g lá tươi giã rồi ép lấy nước, cũng có thể nghiền thành bột dùng.

Dùng ngoài da: lá mướp vừa đủ dùng, sắc nước rửa hoặc giã nát, nghiền thành bột để đắp.

Rễ mướp: trị đau nửa đầu, đau lưng, chứng tê cứng, tiêu tiểu khó, thiếu sữa, chứng viêm mũi, viêm xoang, đường ruột ra máu, đau họng.

Cách dùng: 10 – 25g rễ khô, hay 50 – 75g rễ tươi, cho vào sắc nước uống, cũng có thể nướng cháy rồi nghiền thành bột mịn dùng.

Dùng ngoài da: sắc nước hoặc ép lấy nước rửa.

Hạt mướp: trị phù nề, sỏi đường tiết niệu, đường ruột ra máu, táo bón, ho, bệnh giun đũa.

Cách dùng: 10 – 15g sắc nước uống, hoặc sao rồi nghiền thành bột dùng.

Dùng ngoài da: nghiền thành bột đắp.

Vỏ mướp: trị tê liệt bọng nước, mụn nước ở mông, mụn mủ vàng, giải trừ nhiệt độc, trị phù.

Cách dùng: 15 – 25g sắc nước uống.

Dùng ngoài da: giã nát hoặc nghiền thành bột đắp.

Hoa mướp: trị phế nhiệt, ho, đau họng, viêm xoang, bệnh trĩ, sưng độc, trị ho rát họng, trị tiêu chảy do bệnh môn (quả thận bên phải) bị nhiệt.

Cách dùng: 10 – 15g sắc nước uống.

Dùng ngoài da: giã nát đắp.

Dây mướp: trị đau nhức lưng, tay chân bị tê, ho nhiều, bệnh về nướu răng, sâu răng, kinh nguyệt không đều, giải nhiệt và trị trúng nắng.

Cách dùng: 50 – 100g sắc nước uống hoặc nướng thành than rồi nghiền nát, mỗi lần dùng 3 – 6g.

Dùng ngoài da: nướng cháy rồi nghiền thành bột đắp.

Nước ép mướp: Trị bệnh ho gà.

Canh muop
CANH MƯỚP NẤU TÔM GIÚP GIẢM CÂN TỐT.

* Lưu ý khi dùng:

1. Người bị tiêu chảy, đường ruột không tốt thì không nên ăn mướp.

2. Người sinh lý yếu không nên ăn.

3. Người tì hư, thai phụ nên cẩn trọng khi dùng hạt mướp và cuống mướp.

4. Người bị thận hư thì không nên dùng nhiều vỏ mướp, để tránh dịch chảy ra nhiều.

5. Người bình thường cũng nên dùng liều lượng vừa phải.

6. Người kinh nguyệt không đều, sức khỏe yếu, ho suyễn, tắc tuyến sữa sau khi sinh nên ăn nhiều mướp.

7. Người bị tiêu chảy nên hạn chế ăn.

*Thành phần dinh dưỡng:

–         Vitamin: A, B1, B2, B3, B5,  B6, B9, C, E, K, Carotene.

–         Chất dinh dưỡng: Protein, Chất béo, Cacbohydrate.

–         Khoáng chất: Canxi, Kali, Kẽm, Đồng, Sắt, Natri, Selen, Photpho, Magne.

* Các bài thuốc chữa bệnh từ mướp:

–         Bệnh quai bị:

+ Cách 1: 50g lá mướp tươi, 50g thài lài ( còn gọi là cỏ chân vịt ). Rửa sạch nguyên liệu rồi giã nát, đắp vòa chỗ bị đau, mỗi ngày 2 lần.

+ Cách 2: 50g vỏ mướp già, 50g vỏ bầu. Phơi khô cả 2 rồi nghiền thành bột, trộn với một ít dầu rồi đắp lên mặt.

–         Nôn ra máu: 25g lá mướp, 50g rễ cỏ tranh, 25g đường phèn. Rửa sach  lá mướp và rễ cỏ tranh, sau đó cho lượng nước vừa phải vào nấu, sáng tối mỗi bữa dùng 1 lần.

–         Sưng độc không xác định: Lá mướp tươi hoặc mướp non vừa dùng. Giã nát đắp bên ngoài, mỗi ngày dùng 2 lần.

–         Thận hư, đau lưng: Dây va rễ mướp, rượu vừa đủ dùng. Nướng khô dây và rễ rồi nghiền thành bột, mỗi lần dùng  3-  5g, uống chung với rượu, mỗi ngày 2 lần.

–         Đau sưng họng: 200g mướp, mật ong vừa đủ dùng. Mướp thái nhỏ, ép lấy nước, mỗi lần dùng khoảng nửa ly trà, nấu sôi rồi cho thêm mật ong vào dùng.

–         Giúp sáng mắt: 1 quả mướp, 40g hoa mào gà trắng, 20g huyền sâm. Cho nguyên liệu vào nước nấu canh, nêm vừa ăn. Sáng, tối mỗi bữa dùng 1 làn.

–         Chảy máu do trĩ: 650g mướp,  một ít dầu ăn. Mướp rửa sạch, cắt khúc dày, xào với dầu rồi đổ thêm nước vừa đủ để nấu canh.

–         Ho gà ở trẻ em: 30ml nước ép mướp tươi, 15g đường trắng. Cho đường hòa vào nước mướp, sáng tối mỗi buổi dùng một lần.

–         Viêm nha nu:

+ Cách 1: 50g rễ mướp, 10g cam thảo, 40g hoa cúc dại. Cho tất cả nguyên liệu vào sắc nước, sáng tối mỗi bữa dùng 1 lần.

+ Cách 2: 1 quả mướp già, 5g lá trà. Cho nguyên liệu vào sắc nước uống.

–         Bệnh phong thấp: 10g hoa mướp, 12,5g lá trúc, 15g hạnh nhân. Cho nguyên liệu vào nấu canh, sáng tối mỗi bữa dùng 1 lần.

–         Đau nửa đầu: 100 – 200g rễ mướp ( loại tươi ), 2 quả trứng vịt. Rửa sạch rễ ròi cho vào nấu canh cùng trứng vịt.

–         Kiết lỵ: 10g hoa mướp. rửa sạch nấu canh ăn.

–         Sưng đỏ bọng nước, bệnh trĩ: 20g hoa mướp tươi, 20g tử hoa địa đinh ( còn gọi là cỏ tím) tươi. Cho nguyên liệu vào giã nát đắp lên chỗ đau.

–         Phổi nhiệt ho nóng, hen suyễn khó thở: Hoa mướ, mật ong đủ dùng. Cho cả 2 nguyên liệu vào sắc nước dùng.

 

CẦN TÂY – CÓ TÁC DỤNG HẠ HUYẾT ÁP, THANH NHIỆT GIẢI ĐỘC.

 

CẦN TÂY
CẦN TÂY – CÓ TÁC DỤNG THANH NHIỆT GIẢI ĐỘC .

Tính vị:
Cần tây ( cần cạn ): vị ngọt, cay, tính mát.
Cần nước ( cần ta ): vị cay, ngọt, tính mát.
Phần để ăn: thân non.
Phần dùng làm thuốc: thân, lá.
Tác dụng trị bệnh:

– Thân cần tây: trị ho, hen suyễn, nôn ra máu, cao huyết áp, nhức đầu, chóng mặt, trúng gió, tiểu ra máu, viêm tiểu cầu thận cấp tính, sỏi tiết niệu, đau ruột thừa, tê liệt thần kinh vùng mắt, nổi mề đay, trật khớp, đổ mồ hôi trộm, có kinh sớm, kinh nguyệt không đều, ho gà, chảy máu cam, bệnh tưa, rụng tóc, chảy máu chân răng, nhiễm trùng rốn ở trẻ sơ sinh, rôm sảy, viêm dạ dày, ruột thổ tả ở trẻ sơ sinh, ù tai, bệnh bạch hầu, gặ gió chảy nước mắt, viêm loét giác mạc, mắt sưng đau.
– Rễ cần tây: chống nôn mửa, trị bệnh lao phổi, viêm khí quản, thần kinh suy nhược, cao huyết áp, cholesterol cao, mất ngủ, bệnh giun chỉ, xuất huyết sau khi sinh, bệnh tim – phổi.
– Lá cần tây: trị bệnh sởi.
– Cần nước: trị bệnh lỵ trực khuẩn, đái dắt, viêm tuyến mang tai, trẻ em phát sốt.
Công dụng:

– Thân cần tây: thanh nhiệt, lợi tiểu, bình can ích vị, tiêu đờm, điều kinh, an thần, giảm ho, hoạt huyết, tăng cường tuyến thận, cầm máu, giải độc.
– Lá cần tây: có giá trị làm thuốc tốt hơn thân.
– Cần nước: thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, cầm máu.
• Lưu ý khi dùng:

1. Người tì vị hư hàn không nên dùng.
2. Người sốt cao, miệng khô, khát không được dùng.
3. Rau cần không được nấu lâu, nếu không sẽ mất chất dinh dưỡng và ăn không ngon, cần cạn và cần nước có giá trị dinh dưỡng như nhau, nhưng cần cạn làm thuốc tốt hơn.
Cách dùng:

– Cần nước: cần nước tươi 50 – 370,5g. Sắc hoặc giã lấy nước uống.
Dùng ngoài da: giã nát bôi hoặc giã lấy nước đắp lên chỗ bị viêm.
– Cần cạn: cần cạn khô 15 -25g, cần cạn tươi 40 – 75g, sắc nước uống.
Dùng ngoài da:giã nát rồi bôi hoặc sắc nước rửa.
Thành phần dinh dưỡng:

– Vitamin: A, B1, B2, B3, B6, B9, C, E, K.
– 3 chất dinh dưỡng chính: protein, chất béo, cacbohydrate.
– Khoáng chất: canxi, kali, kẽm, đồng, sắt, natri, selen, photpho, magie.
– Năng lượng: 13 kcal.
– Chất xơ: 0,9g.

Thông tin bổ sung:

1. Ăn cần tây thường xuyên có tác dụng điều trị cao huyết áp, xơ cứng động mạch, cùng với bệnh loãng xương ở trẻ em.
2. Cần tây còn có tác dụng thanh nhiệt, bình can, sáng mắt.

thit xao ctay
THỊT BÒ XÀO CẦN TÂY – MÓN ĂN ƯA THÍCH CỦA MỌI NHÀ.

Các bài thuốc chữa bệnh từ cần tây:

Cholesterol cao, huyết áp thấp: 125g rễ cần tây tươi, 10 quả táo. Cho nguyên liệu vào nồi sắc nước uống, mỗi ngày 2 lần, uống khoảng 10 ngày để theo dõi kết quả.
Bệnh cao huyết áp:
+ Cách 1: 75g rễ cần tây khô, 125g khổ qua. Cắt rễ cần thành từng khúc, khổ qua thái lát mỏng, cho nước vào săc uống, mỗi ngày dùng 2 lần.
+ Cách 2: 100g – 150g cần tây tươi, mật ong vừa đủ dùng. Cần tây tươi giã nát ép lấy nước, cho mật ong vào hầm, mỗi ngày dùng 1 lần.
Thần kinh suy nhược, mất ngủ:
+ Cách 1: 75g rễ cần tây, 40g bách hợp (còn gọi là cây tỏi rừng), 15g sanh địa. Cho nguyên liệu vào sắc nước, uống trước khi ngủ.
+ Cách 2: 125g cần tây, 15g hạt táo chua. Cho nguyên liệu vào sắc nước uống, uống trước khi đi ngủ.
Ho lao: 40g rễ cần tây, một ít mật ong. Rễ cần tây rửa sạch, thái nhuyễn, thêm mật ong vào sao lên dùng, mỗi ngày dùng 2 – 3 lần.
Ho, viêm khí quản: một bó rễ cần tây, 15g vỏ quýt, 40g mạch đường nha. Rễ cần tây rửa sạch, cắt thành từng khúc vừa đủ dùng; cho đường mạch nha vào nồi nấu chảy, sau đó cho rễ cần tây, vỏ quýt vào, sao cho hơi cháy lên một chút rồi thêm nước vào sắc, uống khi còn ấm. Mỗi ngày dùng 2 lần.
– Bệnh giun sán: 30g rễ cần tây, 25g rong biển. Cho nguyên liệu vào sắc nước uống, mỗi ngày 2 lần.
Nhức đầu: Rau cần tây vừa đủ, 1 -2 quả trứng gà. Cần tây rửa sạch, giã nát, đập trứng gà vào, nấu chín dùng, mỗi ngày 2 lần.
Ù tai: 125g rau cần tây, 25g hoa hòe, 25g hạt mã đề (dùng băng y tế bọc lại). Cho nguyên liệu vào sắc nước uống, mỗi ngày dùng 2 lần.
Chảy máu cam: 40g cần tây, 20g rau mùi ( ngò), 2 quả trứng gà. Cần tây, rau mùi rửa sạch, xắt khúc, nấu canh với trứng gà để dùng.
– Viêm ruột thừa: 50g cần tây, 40g hoa cúc dại, 15g củ sen. Cần tây rửa sạch, cắt khúc, rồi cho cùng với hoa cúc dại, củ sen vào nước sắc uống, mỗi ngày 2 lần.
Tê liệt thần kinh vùng mặt: 75g cần tây, 1 củ tỏi. Giã nát 2 nguyên liệu, bôi lên chỗ cần điều trị, mỗi ngày 1 lần.
Viêm loét giác mạc: 40g cần tây, 25g rau dền tía dại, 40g đậu đổ. Cho tất cả nguyên liệu vào sắc nước uống, mỗi ngày 2 lần.
Nổi mề đay: 40g cần tây, 65g rễ cỏ tranh, 250g bí đao ( lấy cả phần ruột mềm ). Cho tất cả các nguyên liệu vào sắc nước uống, mỗi ngày 2 lần.
Viêm dạ dày, ruột cấp tính: 50g cần tây, 50g rau sam tươi, 20g củ cải trắng, 3 lát gừng tươi. Cho tất cả nguyên liệu vào sắc nước uống, mỗi ngày dùng 2 lần.
Bệnh sởi: 15g lá cần tây, 25g lá dưa leo. Rửa sạch nguyên liệu rồi cho vào nước sắc uống, mỗi ngày dùng 2 lần.
Thổ huyết: 100g cần tây, 5g hoàng liên. Cho nguyên liệu vào nước sắc uống, mỗi ngày dùng 2 lần.
Tỳ vị hư nhược: 75g rễ cần tây, 40g táo ta. Cho nguyên liệu vào nước sắc uống.
Viêm gan da vàng: 200g rễ cần tây, 40g hạt mã đề, 12g táo ta, đường trắng vừa đủ dùng. Cho nguyên liệu vào nước sắc, đầu tiên gạn lấy nước rồi cho thêm nước sắc tiếp lần 2, sau đó hòa chung 2 lần nước sắc lại với nhau, thêm đường trắng, mỗi ngày uống 1 – 2 chén, uống liên tục trong 1 tuần.
Kinh nguyệt quá yếu, xuất huyết tử cung: 300g cần tây tươi, 200g cây chân vịt tươi, 2 quả trứng gà. Trứng luộc chín, bóc vỏ rồi cho vào nồi đất, bỏ cần tây và cây chân vịt vào, thêm nước nấu lên, sau đó lọc bỏ bã, an trứng và uống nước canh.
Đau bụng kinh sau khi sinh: 50g cần tây khô, rượu gạo, đường đỏ vừa đủ dùng. Cho cần tây vào nước nấu, sau đó cho đường đỏ và rượu gạo vào, uống khi bụng đói.
Đau đầu, đỏ mắt: 100g gạo, 50g cần tây. Gạo đem nấu cháo, đợi sắp chín cho cần tây đã rửa sạch, thái nhỏ vào nấu chung.
– Di chứng sau khi trúng gió, đi tiểu ra máu: cần tây tươi đủ dùng. Cần tây rửa sạch, giã ép lấy nước, mỗi lần uống 5 muỗng, mỗi ngày 3 lần. uống liên tục 7 ngày.
– Trẻ em mắc bệnh thổ tả: 100g cần tây. Sắc đặc uống.
Chống nôn mửa sau khi sinh: 15g rễ cần tây tươi, 20g cam thảo, 1 quả trứng gà. Cho rễ cần tây và cam thảo vào nước, sắc đên khi nước gần cạn, đập trứng gà vào rồi dùng.

Tôi là Phạm Anh Duy

Duy Lương y, cái tên không nói lên tất cả. Nhưng với tôi nó chất chứa nhiều cảm xúc. Cái ngày mà tôi bước chân vào khoa Đông y của trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, khoác lên mình tấm áo blouse của một người Thầy thuốc, tôi tự đặt cho mình cái tên như thế vì cảm thấy hai chữ Lương y sẽ gắn chặt với cuộc đời tôi kể từ đây và nhắc nhở bản thân mình phải cố gắng học hành để sau này trở thành một thầy thuốc tốt,giúp đỡ với bệnh nhân với tất cả tấm lòng, không toan tính vụ lợi, không làm trái với lời giáo huấn của Y tổ, và lấy việc chữa bệnh giúp đời làm lẽ sống.

Và cứ thế tôi ra sức học và sống trọn vẹn với phương châm đó. Sau khi ra trường tôi theo học và làm với 2 người thầy là Lương y Nguyễn Công Đức và Lương y Trần Duy Linh, và tôi chính thức trở thành một Lương y chữa bệnh cho mọi người khi tôi tham gia chữa bệnh từ thiện tại chùa Lộc Uyển.

Thế nhưng cuộc đời tôi rẽ lối khi tôi hiểu ra một điều. Một điều mà với cương vị của một người thầy thuốc tôi không thể “chữa” hết cho bệnh nhân được.

Cái suy nghĩ lạ lẫm này xuất hiện khi tôi đang châm cứu cho một bệnh nhân ở trong chùa, bà cụ già bán vé số, mỗi ngày bán chỉ đôi chục tấm vé số mà mỗi lần đến chữa bệnh khi thì xách theo nải chuối, bọc trái cây để mời chúng tôi ăn, cứ mỗi lần chúng tôi từ chối nhận thì bà cười xòa và buộc miềng  “các cô chú ăn đi cho có sức mà chữa bệnh, bà già rồi đâu có ăn bao nhiêu” …

Nghe  lời nói mộc mạc và chan chứa tình cảm của bà đã làm tôi xúc động rất nhiều và tự hứa với bản thân phải thật cố gắng để không phụ lòng những bệnh nhân đã phó thác bệnh tình cho mình

Thế nhưng dù dùng hết cách thì bệnh tình của bà cũng chỉ đỡ thôi chứ không hết dứt được.Hết được thế nào khi mà mỗi ngày bà cụ phải đội mưa nắng đi hơn chục cây số chỉ với cây gậy và đôi đầu gối thoái hóa sưng đau. Tôi viết điều này ra mà cảm xúc nghẹn ngào vẫn y nguyên như ngày xưa đối diện với nó. Tôi cảm thấy thật bất lực khi nhìn bà đau đớn với đôi chân lam lũ cực khổ ở cái tuổi gần đất xa trời. Nhìn bà tôi cảm thấy thật có lỗi và hổ thẹn…cropped-nguoi_gia.jpg
Cái hạn chế của người thầy thuốc là chỉ chữa được bệnh tật của bệnh nhân chứ không thể chữa được hoàn cảnh nghèo khổ của họ. Nhìn bà cụ như vậy tôi muốn giúp mà chẳng biết giúp thế nào, và ngoài kia còn biết bao nhiêu ông cụ, bà cụ với hoàn cảnh tương tự mà với đồng lương còi cọc của tôi lúc đó thì giúp thế nào đây. Tôi trăn trở tự hỏi và dằn vặt bản thân trong nhiều ngày với sự bất lực, chán nản.

Và cuối cùng tôi đã tìm ra một con đường vẹn toàn,đó chính là ra kinh doanh.”Phi thương bất phú”, chỉ có kinh doanh mới có thể kiếm được nhiều tiền và chỉ có thật nhiều tiền thì tôi mới có giúp được nhiều người và khi ở một  vị thế là người thành công trong xã hội lúc đó tôi có thể kết nối được nhiều người cùng chung mục đích làm từ thiện  giúp đỡ mọi người có hoàn cảnh khó khăn.

Vì vậy tôi ra kinh doanh.